BREAKING NEWS

Category 5

Category 6

Category 7

From our Blog

Hiển thị các bài đăng có nhãn phat-day. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phat-day. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

Nhìn bàn tay nhận biết người đàn ông tốt

Dưới đây là 1 trong số những nét tướng cho thấy đó là một người đàn ông tốt dưới góc nhìn của các nhà nhân tướng học. Hãy cùng hạt giống tâm hồn xem đó là những nét tướng nào nhé! 

1. Vân tay hình xoắn ốc

Nếu chàng trai nào mà sở hữu nhiều ngón tay mà có vân tay hình xoắn ốc thì đó là nét tướng biểu thị cho biết đây là một người rất coi trọng cho sự nghiệp, ở người này họ luôn muốn tự mình xây dựng lên cơ đồ. Hơn thế, xem tu vi 2018 thấy rằng những người đàn ông này thường rất coi trọng hiệu suất làm việc, tận lực đầu tư đến khi phải đạt kết quả như ý muốn mới chịu dừng lại.


2. Các gò trên bàn tay đầy đặn

Quan sát thấy các gò trên bàn tay đầy đặn đó là chỉ ba gò đại diện cho phúc lộc và thọ, không bị bất kì tổn thương nào. Hình dạng của các gò này đầy đặn thì vận thế cuộc đời người này sẽ rất tốt, gia đình thì hòa thuận, hưng vượng. 

3. Đường Tâm đạo hoàn chỉnh và có xu hướng uốn cong ở phía cuối

Đường Tâm đạo hay còn gọi là đường Tình cảm. Nếu thấy đường này hoàn chỉnh hoặc uốn cong là đặc điểm cho thấy đường này không có khiếm khuyết gì về mặt nhân tướng. Nếu thấy cuối đường lại uốn cong, hướng lên về phía trên, đó là biểu thị cho thấy một là người có cá tính ôn hòa, rộng lượng, thường rất coi trọng chuyện tình cảm và tôn trọng bạn đời. Họ dễ dàng bỏ qua những lỗi nhỏ của đối phương, là người sống rất có trách nhiệm, đồng thời cũng rất biết lo toan cho cuộc sống của gia đình.

4. Ngón tay cái có hình mắt phượng

Mắt phượng là khu vực nằm ở vị trí nối giữa hai đốt của ngón tay cái. Những đường vân ở đây sẽ tạo thành hình nhìn giống như mắt phượng. Chủ nhân của tướng tay này thuộc tuýp mạnh mẽ, có chính kiến, biết lập kế hoạch rõ ràng cho cuộc đời mình. 

5. Đường Công danh rõ nét và kéo dài tới gò Nguyệt

Đường Công danh là một đường vân thẳng kéo dài từ phía dưới ngón áp út. Đường này sắc nét biểu thị chủ nhân rất hào phóng, cá tính lạc quan, thiên về mở rộng giao tiếp xã hội, có tấm lòng lương thiện. Dù trải qua không ít khó khăn trên đường công danh sự nghiệp nhưng nhờ sự giúp đỡ của người khác nên mọi vấn đề đều được giải quyết ổn thỏa.

Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

Phật dạy cách kiềm chế sự tức giận?

Đọc xong câu chuyện dưới đây, chúng ta sẽ thấy thấm thía những lời Phật dạy về cái giá của sự nóng giận, nó sẽ khiến cho không chỉ bản thân mình đau buồn mà còn khiến cho cả những người thân của mình cũng buồn lòng và xa lánh chúng ta. Nóng giận chính là biểu hiện của một nội tâm yếu ớt. Cùng đọc và suy ngẫm nhé!

Một bà cụ có tính tình cau có, thường xuyên nổi giận vì những sự việc nhỏ nhặt, hơn nữa, mỗi khi tức giận hay dùng lời lẽ ác độc, vô tình đã làm tổn thương nhiều người, vì thế bà ta giao tiếp với hàng xóm bạn bè đều không được hài hòa.


Bà ta cũng biết khuyết điểm của mình, mong muốn sửa lại lỗi lầm thành tật này. Nhưng mỗi khi tức lên thì chính bà ta cũng không thể khống chế được tâm mình.

Một hôm, một người đã nói với bà : “Chùa gần đây có một vị thiền sư, cũng là vị cao tăng, tại sao bà không đến xin lời chỉ dạy, biết đâu thiền sư có thể giúp được cho bà.”

Bà ta cũng cảm thấy có lý, đã đến tham vấn với thiền sư.

Khi bà ta thổ lộ tâm trạng của mình, bà ta có thái độ rất thành khẩn, rất mong muốn có được một vài lời khai thị từ vị thiền sư đó. Vị thiền sư im lặng nghe bà kể lể, chờ cho bà ấy nói hết, mới dẫn bà ta vào một thiền phòng, sau đó khóa cửa thiền phòng và rời khỏi đó.

Bà ta một lòng muốn có được lời chỉ dạy của thiền sư, nhưng không ngờ thiền sư đã nhốt bà ta vào trong một thiền phòng vừa lạnh vừa u tối. Bà ta tức tối hét lên, cũng như ngày thường, bà ta buông những lời nhục mạ quái ác. Nhưng cho dù bà ta có la hét cách nào, nhưng ở ngoài vẫn im lặng, thiền sư hình như không nghe thấy lời nào.

Khi không còn chịu đựng được nữa, thì bà ta thay đổi thái độ cầu xin thiền sư thả mình ra, nhưng thiền sư vẫn không động lòng thay đổi cách hành xử của mình, vẫn mặc kệ bà ta tiếp tục nói gì thì nói.

Qua một hồi rất lâu, cuối cùng trong thiền phòng cũng không còn tiếng la hét hay nói năng của bà ta nữa, thì lúc này, phía ngoài thiền phòng mới có tiếng nói của thiền sư hỏi : “Bà còn giận không ?”

Thế là bà ta giận dữ trả lời : “Tôi chỉ giận tôi, tôi hối hận sao phải nghe lời người khác, tìm đến cái nơi quỷ quái này để xin ý kiến của ngươi.”

Thiền sư ôn tồn nói : “Kể cả chính mình bà cũng không chịu buông tha, thì bà làm sao có thể tha lỗi cho người khác chứ ?” Nói xong thiền sư lại im lặng.

Sau một thời gian im lặng, thiền sư lại hỏi : “Bà còn giận không ?”

Bà ta trả lời : “Hết giận rồi !”

 “Tại sao hết giận !”

“Tôi giận thì có ích gì ? Không phải vẫn bị ông nhốt tôi trong cái phòng vừa u tối vừa lạnh lẽo này hay sao?”

Thiền sư nói với vẻ lo lắng : “Bà xử sự kiểu này càng đáng sợ hơn đấy, bà đã đè nén cơn tức giận của mình vào một chỗ, một khi nó bộc phát ra thì càng mãnh liệt hơn.” Nói xong, thiền sư lại quay đi.

Lần thứ 3 thiền sư quay lại hỏi bà ta, bà ta trả lời : “Tôi không giận nữa, ông không xứng đáng để tôi giận!”

Thiền sư nói : “Cái gốc tức giận của bà vẫn còn, bà cần phải thoáng ra khỏi vòng xoáy của tức giận trước đã.”

Sau một hồi lâu, bà ta đã chủ động hỏi thiền sư : “Bạch thiền sư, ngài có thể nói cho con biết tức giận là cái gì không ?”

Thiền sư bước vào, vẫn không nói chuyện, chỉ có động tác như vô tình đổ đi ly nước trong cái ly trên tay.

Lúc này thì bà ta hình như đã hiểu.

Thì ra mình không bực tức, thì làm gì có tức tối giận hờn ? Tâm địa trống không, không có một vật gì, thì làm gì có tức tối ?

Trong lòng không có bực tức, thì làm sao có cơn giận ?

Thật ra tức tối không những tự làm cho mình khổ đau, và những người xung quanh cũng theo đó mà buồn lòng. Lúc tức tối tức giận, không gì ngăn cản cái miệng, buông lời quái ác, một số lời lẽ trong đó có thể làm đau lòng người nghe, thậm chí có cả những người yêu thương quan tâm mình.

"Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai “, chỉ một niệm khởi sân mà kết quả là muôn ngàn chướng ngại nẩy sanh.

Bài học cuộc sống là đừng nên vì sự việc nhỏ nhặt mà gây ra chuyện hại người hại mình, tức tối la hét là hành vi của kẻ ngu muội.

Tuy chúng ta chưa thể là một người thông minh, nhưng tối thiểu chúng ta cũng đủ trí tuệ ngăn cản mình làm một con người ngu dại. Xem nhẹ hơn mọi sự việc không như ý, đồng thời tìm thấy ích lợi trong im lặng, giác ngộ ý thiền trong cuộc sống. Từ đó chúng ta sẽ cảm nhận cuộc sống không cần phải mệt mỏi như ta tưởng, cũng không phài khốn khó như ta đã gặp.

Những sự việc nhỏ nhặt cũng giống như những hạt cát trong đôi giày đã làm cho bạn khó chịu.

Thế thì bạn lựa chọn cách giũ bỏ hạt cát hay vứt bỏ đôi giày? Chúng ta không thể không mang giày, vì còn con đường dài phía trước, thế thì tại sao chúng ta không chịu giũ bỏ hạt cát!

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

Bảy bước chân nở sen khi Đức Phật đản sanh có ý nghĩa gì?

Cùng tìm hiểu về Kinh Phật - Tụng Chú Đại Bi cũng như là: "Ý nghĩa của bảy bước chân nở sen khi Đức Phật đản sanh".

Bảy bước đi của Bồ-tát Tất-đạt-đa trong ngày thị hiện đản sanh là tiêu biểu cho bảy yếu tố giác ngộ, hay nói theo thuật ngữ chuyên môn của Phật học là Thất giác chi hoặc Thất bồ-đề phần. Hễ có bất cứ ai thực tập thành tựu được bảy yếu tố giác ngộ này thì vị đó có cơ hội trở thành bậc Giác ngộ hay trở thành một vị Phật. Qua các kinh điển cho chúng ta biết, không riêng gì đức Phật Thích-ca Mâu-ni, khi thị hiện đản sinh Ngài đi bảy bước, trên bảy hoa sen, mà bất cứ đức Phật nào dù trong quá khứ hay trong tương lai, khi thị hiện đản sanh với tư cách của một vị Bồ-tát nhất sanh bổ xứ cũng đều đi bảy bước trên bảy hoa sen như vậy. Hoa sen là tiêu biểu cho sự vô nhiễm. Nghĩa là Bồ-tát nhất sanh bổ xứ sinh ra giữa thế gian, nhưng không bị những bụi bặm của thế gian làm cho ô nhiễm, trái lại còn có khả năng chuyển hóa những bụi bặm của thế gian thành hương thơm tinh khiết. Bảy bước trên bảy hoa sen ấy là tiêu biểu cho bảy yếu tố giác ngộ mà một vị Bồ-tát nhất sanh bổ xứ thực tập thành công và sẽ thành tựu bậc giác ngộ ngay trong cuộc đời đầy ô nhiễm này. Bảy yếu tố giác ngộ ấy gồm:  


1. Trạch pháp giác chi  

Trạch pháp giác chi là chi phần dẫn đến Thánh đạo vô lậu, do nội dung giác chiếu, chọn lựa gồm có đủ quán như ý túc, tuệ căn, tuệ lực và có sự quyết trạch giác phần, khiến cho các phiền não đã sanh liền diệt, những phiền não chưa sanh, thì vĩnh viễn không sanh, khiến Bồ-đề chưa sanh thì liền sanh và nếu đã sanh thì sẽ dẫn đến viên mãn. Vì thế cho nên đức Phật Thích-ca Mâu-ni trước khi có mặt nơi thế giới Ta-bà này, Ngài đã lưu trú nơi cung trời Đâu-suất để quán chiếu và lựa chọn cõi nước, dòng dõi, cha mẹ giáng thần và vườn Lâm-tỳ-ni đản sanh. Như vậy, yếu tố trạch pháp rất quan trọng. Khi xuất hiện nơi thế giới này rồi, Ngài chọn tiếp chỗ để hành thiền và thành đạo là Bồ-đề đạo tràng, nơi chuyển vận Pháp luân là Lộc Uyển, và nơi nhập Niết-bàn là rừng Sa-la ở Kusinaga. 

Tiếp xúc với Phật đản là chúng ta tiếp xúc với khả năng trạch pháp của Ngài. Nhờ thực hành trạch pháp mà đức Phật dạy đã thành công trên bước đường giác ngộ và giáo hóa chúng sanh. Do đó, trạch pháp giác chi là tiêu biểu cho bước đi thứ nhất trong ngày thị hiện đản sanh của Ngài. Vì vậy, Phật tử chúng ta phải thực tập trạch pháp giác chi để có khả năng loại bỏ tham dục, chấp ngã, loại bỏ mê tín, cuồng tín, viễn ly những tà sư ác hữu, thân cận những bậc thiện hữu tri thức, xuất hiện đúng thời, đúng chỗ đã chọn lựa để thăng tiến đời sống giác ngộ, giải thoát, làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh. Nếu chúng ta sống thiếu trạch pháp thì chúng ta làm việc không đúng thời, nói năng không đúng lúc và không đúng chánh pháp, chúng ta sẽ nhận thầy tà làm thầy chánh, bạn ác làm bạn hiền, làm thân hữu để rồi đi dần vào con đường lầm lỗi ở trong sanh tử luân hồi, khó mong thoát khỏi. Trong mùa Phật đản, Phật tử chúng ta thực hành trạch pháp giác chi, để khởi sinh chất liệu giác ngộ, nhằm cúng dường đức Phật và phụng sự chánh pháp.  

2. Tinh tấn giác chi  

Xem lich van nien thấy rằng tinh tấn giác chi là nỗ lực biến trạch pháp giác chi trở thành hiện thực trong đời sống của mình, nên gọi là Tinh tấn giác chi. Nhờ có Tinh tấn giác chi mà các điều ác trong tâm đã sanh liền diệt, những điều ác chưa sanh thì vĩnh viễn không sanh; những điều thiện nơi tâm chưa sanh, thì liền sanh, những điều thiện nơi tâm đã sanh liền thăng tiến đến chỗ viên mãn. Tinh tấn giác chi là tiêu biểu cho bước chân thứ hai trong ngày đức Phật thị hiện đản sanh. Lễ Phật đản, chúng ta tổ chức dựng lễ đài để cúng dường là đúng, tổ chức lạy Phật để cúng dường là đúng, tổ chức tụng kinh để cúng dường là đúng, nhưng tất cả những tổ chức đó phải có nội dung thật sự của trạch pháp giác chi và tinh tấn giác chi, chứ không phải chỉ là hình thức hay đối phó. Nếu ta tổ chức chỉ để đối phó và hình thức, thì ta sẽ bỏ mất cơ hội tiếp xúc với ý nghĩa đích thực của Phật đản.  

Ngày Phật đản rất nhiều người thiếu may mắn, vì họ phải lao đầu vào công việc làm ăn vất vả, có những vị đang đắm chìm vào công việc sát sanh tại các lò mổ, lò quay, hồ cá, hay bận rộn với việc điều khiển đất nước, tính toán lợi hại ở nơi các doanh nghiệp hoặc ở nơi thương trường, thì quả thật là không may cho họ. Nhưng cũng có những vị, ngày Phật đản có cơ hội đến chùa mà không hết lòng thực tập, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, khiến tâm ý không lắng yên, nói và làm không đúng chánh pháp, thì quả thật không có sự phí phạm và rủi ro nào có thể so sánh. Ngày Phật đản, ta đã phát tâm đi chùa lạy Phật, tụng kinh thì dứt khoát ta đi và đến chùa lạy Phật, tụng kinh một cách thấu đáo hết lòng, để cho cái đi chùa và cái lạy Phật, tụng kinh của ta có kết quả như ta mong muốn và việc cúng dường lên đức Phật của ta có lợi lạc ngay cho bản thân của ta đời này và đời sau.  

Nếu ngày Phật đản, ta không đủ điều kiện đến chùa thì ngày hôm đó ta lạy Phật ở nhà, nếu ở nhà chưa có thờ Phật thì ta ngồi thật yên để lạy Phật mười phương và lạy Phật trong tâm ta, khiến cho mọi ý nghĩ xấu ác nơi tâm ta rơi rụng. Nếu ta nỗ lực làm được như thế thì ta vẫn có cơ hội tiếp xúc với bước chân thứ nhất và thứ hai của đức Phật trong ngày đản sanh của Ngài. Đó là ý nghĩa của tinh tấn giác chi. Và ta đem chất liệu trạch pháp giác chi và tinh tấn giác chi ấy mà dâng lên cúng dường Phật đản.  

3. Hỷ giác chi  

Hỷ giác chi là chi phần giác chiếu đối với hỷ. Hỷ là vui thích. Sự vui thích do quá trình thực hành trạch pháp giác và tinh tấn giác mà sinh khởi. Như vậy, hỷ là niềm vui có cơ sở từ giác ngộ và để giác ngộ, chứ không phải niềm vui sinh khởi từ vô minh và mù quáng. Nói cách khác, do thực tập đời sống tỉnh giác, khiến niềm vui sinh khởi. Hỷ giác chi là tiêu biểu bước đi thứ ba của đức Phật trong ngày Ngài đản sanh. Cho nên ngày Phật Đản, ta hãy thực tập đời sống tỉnh thức và đem niềm vui do sự tỉnh thức đem lại để cúng dường ngày đản sanh của đức Phật. Cúng dường như vậy gọi là sự cúng dường tối thượng. Mùa Phật đản, các tổ chức Phật giáo nên tổ chức những ngày thực tập đời sống tỉnh thức, đời sống vị tha vô ngã cho các giới Phật tử, để cho các giới Phật tử có niềm vui hỷ lạc trong chánh pháp, khiến cho tâm thức của họ sáng lên trong Phật pháp hơn là tổ chức mang tính hình thức nhưng hiệu quả chuyển hóa tâm thức khổ đau cho chúng sanh cũng như đóng góp vào sự an bình cho xã hội thì lại quá khiêm tốn. Vì vậy, hỷ giác chi là tiêu biểu cho bước chân thứ ba, trong ngày thị hiện đản sanh của đức Phật. 

4. Khinh an giác chi  

Khinh an là tâm nhẹ nhàng, thanh thoát do thực hành các pháp phần giác ngộ đem lại. Trong ngày Phật đản, ta muốn có tâm này để cúng dường lên đức Phật thì phải thực tập buông bỏ những lời nói không dễ thương, những cử chỉ và hành động không dễ thương giữa ta với mọi người và cả muôn vật nữa. Quan trọng hơn hết là ta phải thực tập buông bỏ triệt để những hạt giống tham dục, hận thù, hờn oán, trách móc, mù quáng, nghi ngờ và ích kỷ ở nơi tâm ta, khiến cho tâm ta nhẹ nhàng và thanh thoát. Ta hãy đem chất liệu nhẹ nhàng và thanh thoát ấy cúng dường ngày Phật đản sanh. Ấy mới là sự cúng dường tối thượng. Khinh an giác chi là tiêu biểu cho bước chân thứ tư trong ngày thị hiện đản sanh của đức Phật.  

5. Niệm giác chi  

Niệm giác chi là duy trì năng lượng của ý thức tỉnh giác hiện tiền. Các yếu tố trạch pháp, tinh tấn, hỷ và khinh an được duy trì bởi ý thức tỉnh giác hiện tiền. Ta đem ý thức duy trì năng lượng tỉnh giác hiện tiền do sự thực tập mà có được ấy cúng dường đức Phật trong ngày đản sanh của Ngài, ấy là sự cúng dường Phật đản tối thượng. Niệm giác chi là tiêu biểu cho bước chân thứ năm, trong ngày thị hiện đản sanh của đức Phật.  

6. Định giác chi  

Định giác chi là chi phần giác ngộ ở trong thiền định. Trong chi phần này có mặt của các niệm và định như niệm xứ, niệm như ý túc, niệm căn, niệm lực, định căn, định lực. Nhờ thực tập các niệm và định này sung mãn, chúng sẽ làm điều kiện để định giác chi sinh khởi. Mỗi khi trong đời sống của mỗi Phật tử chúng ta đã có định giác chi thì ta sẽ có những bước đi vững vàng trên con đường giác ngộ, ta sẽ không bị các dục thế gian lôi cuốn, không bị mọi luận điểm thị phi của thế gian chi phối và ngăn cản. Phật tử chúng ta phải thực tập giác chiếu để trong đời sống của mỗi chúng ta có chất liệu của định giác chi và ta đem chất liệu của định giác chi ấy cúng dường Phật đản thì hiệu quả cúng dường của chúng ta có tác dụng làm cho Phật pháp trường tồn để chúng sanh lợi lạc. Cúng dường như vậy chính là sự cúng dường Phật đản tối thượng. Định giác chi là tiêu biểu cho bước chân thứ sáu trong ngày thị hiện đản sanh của Đức Phật.  

7. Xả giác chi  

Xả giác chi là chi phần giác chiếu đối với xả. Xả là buông bỏ các tư niệm sai lầm liên hệ đến vô minh, liên hệ đến tham dục, liên hệ đến nhân duyên của sinh tử luân hồi. Hành xả là không đi theo hành nghiệp mê lầm của sinh tử, mà đi theo tỉnh giác, đi theo hạnh nguyện thoát ly sanh tử để độ đời. Bất cứ ai thực tập được bảy chất liệu hay bảy bước đi trên con đường giác ngộ như thế một cách trọn vẹn, thì vị ấy có đủ điều kiện để tuyên bố: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Nghĩa là trên trời dưới đất, ta là vị độc tôn đối với bảy chất liệu giác ngộ. Vì vậy, nếu ai thực hành đời sống giác ngộ viên mãn bảy chất liệu như vậy thì người ấy độc tôn trong thế gian, được thế gian tôn kính. Vì sao? Vì vị ấy sẽ thoát ly sinh tử ngay trong đời này, thoát ly hoàn toàn khổ đau do tham dục đem lại, hoàn toàn không còn bị tái sanh đời sau, có khả năng chuyển vận bánh xe chánh pháp để độ đời và có khả năng rống lên tiếng rống sư tử, khiến cho mọi sinh hoạt theo bản năng thú tính giữa thế gian đều bị rơi rụng, mọi tà kiến đều bị nhiếp phục, chánh kiến hiển bày. Khi đản sanh, Bồ-tát Tất-đạt-đa, tức là tiền thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni tuyên bố “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” là có gốc rễ từ sự thực hành ở nơi bảy yếu tố giác ngộ này, mà thuật ngữ chuyên môn của Phật học gọi là Thất Bồ-đề phần hay Thất giác chi.

Bảy yếu tố giác ngộ này là bảy tiến trình tu tập thiền định và quán chiếu dẫn đến đoạn trừ các lậu hoặc ở nơi tâm, khiến thành tựu các chất liệu của Thánh đạo vô lậu của tâm giác ngộ và giải thoát. Cho nên, khi ra đời, Bồ-tát Tất-đạt-đa, tức là tiền thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, bước đi bảy bước trên bảy hoa sen là tiêu biểu cho tư cách của một vị Bồ-tát nhất sanh bổ xứ, sẽ thành tựu Phật hay thành bậc Giác ngộ do bảy yếu tố giác ngộ đem lại, khiến không còn bị nhiễm ô phiền não ngay trong đời này. Tuy nhiên, ta biết rằng ở trong thế giới trời người không một ai thành tựu được bảy bước đi giác ngộ ấy một cách dễ dàng, và không một ai có khả năng tuyên bố “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” mang tính thuyết phục và hấp dẫn như đức Phật Thích-ca Mâu-ni, khi Ngài mới đản sanh. Vì sao? Vì chính như Ngài đã nói: “Những gì Ngài nói là Ngài đã làm và những gì Ngài đã làm, thì Ngài mới nói”. Mùa Phật Đản trở về, Phật tử chúng ta cố gắng tu học một cách hết lòng, sống và thực tập theo lời Phật dạy một cách sâu sắc. Như vậy, chúng ta mới có cơ hội tiếp xúc với những gì mà đức Phật đã dạy và dâng cúng Ngài những gì chúng ta có được qua sự thực tập. Nhất là chúng ta cần phải thực tập bảy bước đi của Ngài trong đời sống cho đến khi nào chúng ta có khả năng tự do đối với sinh tử. Thực tập bảy bước đi của đức Phật trong đời sống dưới nhiều hình thức khác nhau. Chúng ta có thể thực tập trong lúc thở vào, thở ra hay đi đứng nằm ngồi, nói cười, ăn uống, làm việc và suy nghĩ. Qua những hành hoạt như thế, chúng ta có thể tiếp xúc với đức Phật mỗi ngày và cúng dường lên Ngài mỗi ngày bằng tất cả sự thực tập của mỗi chúng ta. Thực tập như vậy là chúng ta cũng đã làm cho đức Phật trong ta đang và sẽ đản sanh. Ngày Phật đản, chúng ta phải làm thế nào để đức Phật thật sự có mặt với chúng ta, ngay trong đời sống qua bảy bước đi của Ngài. Được như vậy, chúng ta làm lễ kỷ niệm ngày Phật đản một cách có ý nghĩa. Trên đài sen, đức Phật sẽ nhìn chúng ta mà mỉm cười, tin tưởng và thương quý.

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

Phật dạy những loại người không nên kết giao

Dẫu biết rằng trong cuộc đời này chúng sinh vốn đều bình đẳng như nhau, con người sinh ra và sống với nhau ở trên đời này là để yêu thương và đùm bọc lẫn nhau. Nhưng trong cuộc sống có 4 loại người mà bạn cần đề phòng khi tiếp xúc quá lâu hay quá nhiều với họ, bởi bạn cần biết rằng họ sẽ hút hết năng lượng của bạn theo lời Phật dạy.


1. Những người họ hay oán giận và phẫn nộ.

Những người mà lúc nào cũng luôn than thở và oán trách số phận, hay oán trách những người khác nhìn bất cứ đâu cũng cảm thấy không vừa mắt, làm việc gì họ cũng cảm thấy không vừa ý chính bởi vậy mà họ luôn luôn gặp khủng hoảng và luôn dễ dàng phản đối mọi việc. Những người như vậy sẽ không nhìn thấy mặt tích cực và lạc quan của vẫn để, họ sẽ chỉ chăm chăm soi xét tới những điều tiêu cực, những điều xấu ca và những khổ đau xui rủi mà thôi.

Nếu gần gũi kiểu người này quá lâu bạn sẽ bị nhiễm những năng lượng xấu và cái cách nhìn đời u ám của họ. Từ cái nhìn tiêu cực đó sẽ dẫn tới những suy nghĩ tiêu cực, rồi hành động tiêu cực, lộ trình không sẽ không quá xa đâu.

2. Kẻ giả vờ trợ giúp nhưng lại mưu hại người khác

Những người giả tạo, ngụy quân tử chính là kiểu người không nên kết giao. Bởi vì sự dối trá đội lốt chính nghĩa, kẻ thủ đoạn toan tính bên ngoài sự lương thiện chính là kẻ nguy hiểm nhất. Cũng vì thế mà những người dạng này ẩn nấp rất kĩ, khó nhìn ra lòng dạ thật của họ.
Hãy sống thật tĩnh tâm và ngay thẳng, giản đơn, để kẻ xấu không thể lợi dụng, người tốt muốn kết giao thì tự khắc 4 kiểu người trên sẽ không thể hiện diện trong cuộc sống của bạn.

3. Người quá đề cao cái "tôi"

Phật đã dạy, làm người phải tự chủ và có bản ngã, điều đó là tốt. Tuy nhiên, biến mình trở thành trung tâm của vũ trụ, lúc nào cũng tự phụ, rồi đề cao bản thân, coi thường những người xung quanh thì quả không ổn chút nào. Bất luận là đề cập đến vấn đề gì họ cũng thao thao bất tuyệt rồi phô diễn năng lực bản thân, áp đảo người khác, chen lấn với người khác để nói.
Sự tự tin khác với tự kiêu, gần gũi với người tự tin bạn sẽ cảm thấy được khích lệ và có thêm mục tiêu, thế nhưng khi ở gần những người tự kiêu bạn chỉ thấy bản thân kém cỏi và nhỏ bé so với họ. Kẻ mạnh là kẻ biết nâng người khác lên bằng đôi vai của mình, chứ không phải người giẫm đạp lên người khác để tiến lên.

4. Người có tính cách thâm hiểm

Kẻ nguy hiểm nhất không phải kẻ ác, mà chính là kẻ có dã tâm. Người có tính cách thâm hiểm, sẽ luôn có tính toán trong lòng, luôn mưu đồ việc không đoan chính, đó là loại người không nên tiếp xúc. Vì sao vậy ? Bời khi ở gần những người này biết đâu chính bản thân mình lại bị hãm hại lúc nào không hay. Vì biết đâu, họ lại lôi kéo, lừa lọc mình vào những chuyện bất chính. Sông tuy sâu nhưng còn nhìn thấy đáy, lòng người tuy nông mà khó lường.

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

Phật dạy cách để mang lại sự bình an

Sinh thời, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng răn dạy chúng sinh và thuyết giáo về một thứ gọi là vĩnh cửu, trường tồn theo năm tháng. Ngài cũng đã chỉ ra được 4 thứ trên đời này không thể tồn tại vĩnh cửu. Đó là:


1. Cường kiện giả tất quy tử
Dù cho có mạnh khỏe tới đâu, cuối cùng cũng phải quy về cái chết. Cho dù tuổi trẻ, sức khỏe mạnh mẽ tới đâu đi chăng nữa thì cũng có thời điểm bạn phải ra đi, cho dù có sống thọ đến mấy cũng chẳng thể “trường sinh bất tử”, chẳng thể làm trái với quy luật tự nhiên được.
Vì thế, dù cho bạn là ai đi nữa, bạn hãy tận dụng từng phút giây để được sống, được hít thở trong bầu không khí của tình yêu thương nhân loại, để sống thật hữu ích, sống an nhiên, tự tại để khi chết đi cũng bình an, viên mãn.
Đừng cậy khỏe mà tự tung tự tác với đời, làm những chuyện trái với đạo lý con người. Có chăng, hãy tận dụng sức lực của tuổi trẻ để gắn kết tình yêu thương, gieo mầm thiện, gặt trái lành, tự giúp mình và giúp đời thêm đẹp.
Nghe lời Phật dạy về sự vĩnh cửu trong cuộc đời để ghi nhớ mà có thể buông bỏ mọi ưu phiền, sầu não, thức tỉnh chính mình trên con đường tìm tới sự bình yên trong tâm hồn mỗi chúng ta bạn nhé!

2. Hữu thường giả tất vô thường
Bất luận thứ gì tồn tại thì đều thay đổi, có sinh rồi ắt diệt, hữu biến thành vô, chẳng gì là có thể bảo trì được trạng thái ban đầu. Bản chất từ từ cải biến và cuối cùng là cũng mất hẳn đi.
Trong cuộc đời mỗi con người, không ai dám khẳng định rằng cuộc sống được trải toàn hoa hồng, mà không phải đối mặt với khó khăn, thử thách, nỗi buồn, sự thất vọng.
Trong thời điểm nào đó, nhân sinh ắt sẽ trải nghiệm đủ mùi vị cuộc sống. Người mẹ sinh ra đứa con thì hạnh phúc nhường nào, nhưng đổi lại, để có được niềm hạnh phúc ấy, họ đã trải qua những tháng ngày gian khổ, những cơn đau cùng cực.
Ngay cả cơ thể mỗi người cũng không ngừng biến đổi. Hỏi có ai thoát khỏi sinh, lão, bệnh, tử chăng?
Những thứ hữu hình rồi cũng trở nên vô hình, biến thành cát bụi, bay vào không gian. Vậy nên vì sao phải chấp niệm, giữ khư khư cho mình những điều buồn đau, tủi nhục mà không buông bỏ để cuộc đời được cải biên sang trang mới?

3. Phú quý giả tất bất cửu
Giàu có không thể là vĩnh cửu. Vật chất chỉ là đồ phòng thân, thứ của cải phù du đâu thể ở mãi bên bạn, lúc lìa xa trần thế thử hỏi có ai còn dùng đến nó nữa.
Tục ngữ có câu “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” để khẳng định thêm rằng, vật chất, sự giàu có không bao giờ có khái niệm vĩnh cửu.
Trừ khi bản thân mỗi con người làm việc thiện, tích nhân đức, gieo nhân thiện thì mới có thể bảo trì được vinh hoa phú quý cho đời con đời cháu.
Ngặt một nỗi, là người ai chẳng có lòng tham, thậm chí còn là lòng tham vô đáy, có nhiều rồi lại muốn nhiều hơn, nhiều rồi lại muốn mãi mãi. Vì thế, đếm trên đầu ngón tay cũng không thấy có người muốn quyên tặng hay bố thí, làm việc thiện giúp đời. Vậy nên, giàu có chẳng thể kéo dài mãi được.

4. Hội hợp giả tất biệt ly
Tụ hợp thì ắt có biệt ly, đâu có ai nắm tay được cả ngày. Ngày hôm nay cha mẹ, anh chị em quây quần bên bữa cơm gia đình nồng ấm, nhưng chưa chắc ngày mai, ngày kia lại được tận hưởng cảm giác đó cùng nhau.
Vì thế, đã sinh ra ở trên cõi đời, hãy biết trân trọng những phút giây chúng ta còn được ở bên, cùng sẻ chia và hướng về điều thiện. Đố kị, ghen ghét, thù hằn để làm gì khiến tâm can dằn vặt, khổ đau, khi nhắm mắt xuôi tay rồi mọi thứ đều biến vào hư vô hết, còn lưu lại được gì đây?

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2017

Bạn có phải là người có duyên với Phật?

Phật dạy rằng chúng sinh ai cũng có trong mình ‘Phật tính’, tức là bất kỳ ai trong chúng ta cũng đều tiềm ẩn một mối liên hệ tâm linh nào đó với Phật. ‘Phật tính’ chính là bản chất vốn có của chúng sinh, nó không sinh ra và cũng chẳng mất đi, nó chỉ có thể bị che mờ bởi dục vọng, bởi si mê và lòng thù hận…

Con người chúng ta như những hòn ngọc quý nằm trong đá, nếu không mài không thể phát sáng được. Bạn có thể tự mình tôi luyện bản thân để một ngày có nào đó có thể phát sáng như những viên ngọc quý, tự rèn luyện bản thân cũng chính là tự gieo duyên với Phật, chờ đợi Phật ân. Dưới đây là mười điều chứng minh bạn có duyên với Phật.


Bạn là người có duyên với Phật nếu hội tụ 10 điều này.

1. Trong tâm có Phật chính là Phật duyên

Phật vô xứ bất tại, tu Phật không ở vẻ bên ngoài mà ở tại trong tâm, bạn có tâm như thế nào, có tin Phật tồn tại hay không. Trong tâm có Phật cũng chính là có duyên với Phật.
Muốn biết bạn có ‘duyên’ với Phật hay không hãy xem những điều sau

2. Vứt bỏ đi cái dục vọng xấu chính là Phật duyên

Phật duyên chính là giảm bớt những dục vọng quá đà. Trong kinh Phật nói chưa đoạn đứt tự ngã, tình ái thì khó nhập cảnh giới khiết tịnh, yêu hận ơn thù đều là chướng ngại của tình cảm. Tất cả những đau khổ của con người đều ở tại sự theo đuổi những thứ sai trái. Sự cố chấp của ngày hôm nay có thể tạo thành sự hối hận của ngày mai.

Nếu như bạn không đem lại phiền não cho chính bạn thì người khác cũng chẳng bao giờ có thể đem lại phiền não cho bạn. Mọi thứ đều là vì nội tâm của bạn không dứt bỏ được cái dục vọng xấu. Có thể buông bỏ được dục vọng xấu đó cũng chính là có duyên với Phật.

3. Đối diện với cuộc sống một cách bình hòa chính là Phật duyên

Phật duyên chính là một loại tâm cảnh bình hòa. Tư tưởng của con người rất không ổn định, nó rất dễ bị dẫn dụ, nhất là những cám dỗ kì lạ càng dễ làm người ta mất phương hướng. Rất nhiều người trong tâm muốn chiếm hữu thì khó có được khoảnh khắc thanh nhàn, không những mất đi niềm vui trong cuộc sống mà còn đem lại cho cuộc sống sự căng thẳng và phiền não.

Phật dạy chúng ta biết cách dùng cái tâm bình lặng để nhìn nhận cuộc sống được và mất, làm cho thể tính bộc lộ một cách tự nhiên. Bình hòa đối diện với cuộc sống đó chính là có duyên với Phật.

4. Có trách nhiệm với việc làm của mình là Phật duyên

Phật duyên chính là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Người có tâm phật không nhìn vào sai lầm của người khác, nếu chỉ nhìn vào sai lầm của người khác thì không nhìn thấy được sai lầm của mình.

Do vậy cần phải hiểu rõ bản thân, nhìn rõ những việc bản thân cần làm và cũng cần nhìn rõ hậu quả của cái việc bản thân cần làm, bởi vì bạn cần có trách nhiệm với cái hậu quả đó. Đừng để cuộc đời của bạn lãng phí vào nơi mà bạn nhất định hối hận. Có trách nhiệm với việc làm của mình chính là có duyên với Phật.

5. Có tín niệm tốt lành chính là Phật duyên

Phật duyên là trong tâm có tín niệm. Trong lúc bạn đau khổ nhất chỉ cần bạn có niềm tin rằng đau khổ không phải là mãi mãi bạn nhất định sẽ có sức mạnh để chiến thắng đau khổ, đây chính là một dạng tín niệm.

Có thể nói tín niệm chính là con đường chủ đạo của đời người, thành Phật hay thành ma cũng chính là ở tại một niệm, nếu có tín niệm tốt lành đó cũng chính là có duyên với Phật.

Trong lúc bạn đau khổ nhất chỉ cần bạn có niềm tin rằng đau khổ không phải là mãi mãi, ngày tốt đẹp sẽ tới…

6. Làm việc có trí huệ chính là Phật duyên

Phật duyên là trí huệ thông suốt đại ngộ. Trong cuộc sống, nếu có thể dùng trí huệ để nhìn nhận vấn đề thì có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức, cũng có thể giảm bớt rất nhiều phiền não và ràng buộc, lại còn có hiệu quả làm ít hưởng nhiều.

Nhận biết chính mình, hàng phục chính mình là trí huệ. Nếu có được dạng trí huệ này mới có thể thay đổi người khác, chỉ biết nói không biết làm không phải là trí huệ chân chính. Người hiểu được nhìn đời bằng trí huệ, làm việc có trí huệ cũng chính là có duyên với Phật.

7. Giỏi kiềm chế chính là Phật duyên

Phật duyên là kiềm chế tất cả, kiềm chế chính là sự rèn luyện trí huệ, cũng chính là tích lũy năng lượng, nó dùng ngọn lửa vô hình làm tan chảy băng đá. Kiềm chế đem lại cho bạn sự đau khổ, những ngày sau nó tất thành mật ngọt.

Kiềm chế không giống với trốn chạy, bởi vì trốn chạy là sự thất bại của ý chí, mà kiềm chế lại là không quên sứ mệnh của bản thân làm cho ý chí thêm kiên định, thêm chữ Nhẫn. Hãy học cách cảm ơn những chúng sinh đem lại cho bạn nghịch cảnh, giỏi kiềm chế cũng chính là có duyên với Phật.

8. Rộng lượng đối với người chính là Phật duyên

Phật duyên là biết rộng lượng. Từ bi chân chính không phải là yêu thương những người yêu thương bạn mà còn phải khoan dung và yêu quý những người đối lập bạn. Hãy yêu người khác như yêu chính bản thân mình.
Muốn biết bạn có ‘duyên’ với Phật hay không hãy xem những điều sau

Trong lúc người khác vì một sự hiểu lầm nào đó mà đối xử không tốt với bạn, cần phải đem cái tâm từ bi mà bao dung người đó. Hãy đem lý trí để cảm hóa người đó. Rộng lượng đối với người cũng chính là có duyên với Phật.

9. Biết chờ đợi chính là Phật duyên

Lúc cơ duyên ở tại nhân quả đã thành thục, Phật duyên tự nhiên sẽ đến bên chúng ta.

Chưa có duyên không có nghĩa là không bao giờ có duyên, mỗi người đều có Phật tính, ai cũng có tâm tu Phật. Biết ơn hoàn cảnh xung quanh, cho dù là nghịch cảnh, biết chờ đợi Phật duyên tới cũng chính là có duyên với Phật.

10. Thiện từ chính là Phật duyên

Phật duyên là thiện, tức là sống thiện đã hướng tới Phật duyên, là gieo mầm nhân quả cơ duyên với Phật Pháp rồi.

Phật dạy tu thân là thân nầy không làm điều ác dù lớn hay nhỏ đều phải tránh xa. Còn điều thiện thì phải cố gắng hoàn thành. Còn tu giới là người Phật tử phải giữ tròn ngũ giới, đó là không được sát sanh, không được trộm cướp, không được vọng ngữ, không được uống rượu và không được tà dâm.

Tuy nói tu tâm, tu thân và tu giới nhưng chủ yếu vẫn là tu tâm. Nếu chúng sinh tu tâm được viên mãn thì mọi nghiệp chướng không còn do đó nghiệp khổ sẽ chấm dứt và cuộc đời sẽ được an vui tự tai.

Học Phật trước tiên là học làm người nghĩa là phải vun bồi. Tuy nhiên đời sống đạo đức nhân bản thì thân tâm mới được tự tại cho nên Phật mới dạy Bát Chánh đạo để chuyển hóa cuộc sống dần dần từ phàm đến thánh. Ngay cả Lục Tổ Huệ Năng cũng nói rằng:”Phật Pháp tại thế gian, không lìa thế gian giác” là như vậy. Còn lìa thế gian mà tìm Bồ Đề Niết bàn chẳng khác tìm lông rùa, sừng thỏ mà thôi.

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2017

Tích phúc đức mới làm cho cuộc sống giàu sang

Phật dạy rằng ta sống trên đời này thứ mà nên tích trữ thật nhiều đó là phúc đức, tích phúc đức nhiều sẽ tốt hơn là tích nhiều tiền bạc, bởi phúc đức chính là thứ vĩnh viễn đi liền theo bản thân mình còn tiền bạc vật chất chỉ là vật bên người nên sớm muộn gì rồi cũng mất đi....

Vào thời mà Đức Phật còn tại thế, vua Ba Tư Nặc có một nàng công chúa xinh đẹp tên là Thiện Quang. Công chúa lớn lên rất xinh đẹp và đoan trang, được dân chúng yêu kính. Quốc vương kiêu hãnh nói: “Con được dân chúng yêu thích, nguyên nhân là vì cha làm quốc vương”.

Thiện Quang công chúa thưa rằng: “Là do nhân duyên phúc đức của con, không phải nguyên nhân vì phụ vương làm vua”.


Vua Ba Tư Nặc hỏi công chúa 3 lần, cả 3 lần công chúa đều trả lời như vậy. Vua cha tức giận, đem công chúa gả cho một người bần cùng, rồi nói rằng: “Để xem là vì tự lực của con hay là bởi vì phụ vương là cha của con”.

Sau khi gả cho người nghèo này, cả hai vợ chồng công chúa làm lụng chăm chỉ, không lâu sau đã nhanh chóng phát tài, vợ chồng trở nên giàu có. Vua Ba Tư Nặc rất kinh ngạc, liền đến tìm hỏi Đức Phật.

Đức Phật nói rằng: “Công chúa Thiện Quang trước đây vào thời Phật Ca Diếp trong quá khứ rất thích dùng đồ ăn cúng dường những người tu đạo. Chồng cô ấy ngăn trở cô, cô nói: ‘Thiếp đã phát tâm nguyện, xin đừng làm thiếp nhụt chí thoái tâm’. Chồng của cô liền đồng ý thuận theo cô ấy.

Bởi vì công chúa Thiện Quang cúng dường Phật trong quá khứ, nên cả đời này rất giàu sang, mà chồng cô ấy nguyên đã ngăn trở cô nên mới biến thành bần cùng, nhưng sau đó người chồng đã đồng thuận, nên khi gặp được công chúa Thiện Quang mới được phú quý”.

Quả thật, người nếu có phúc báo, tự nhiên sẽ ảnh hưởng tới phú quý của cả gia đình, dù gả cho người nghèo, thì cũng khiến người đó trở nên giàu có. Đây chính là tính trọng yếu của phúc báo. Tiền bạc có thể bị người khác đoạt mất đi, nhưng phúc báo thì người khác không cách nào có thể chiếm đoạt được.

Có người làm gì cũng đều kiếm được ra tiền, có người có làm gì đi nữa cũng chỉ có thể đủ nuôi sống bản thân, đây chính là vấn đề nằm ở phúc báo.

Thành tựu của một người đều dựa vào phúc báo cộng với trí tuệ mà thành. Nếu chỉ dựa vào trí tuệ, cho dù có khéo đọc sách, hiếu học thế nào đi nữa mà không có phúc báo thì đi ra ngoài xã hội kiếm tiền đều sẽ rất khó khăn. Đọc sách cần biết đọc, nhưng kiếm tiền và đọc sách lại là hai việc khác nhau.

Từ kinh doanh, buôn bán, cho đến làm xí nghiệp đều dựa vào phúc báo, còn trí tuệ là đứng vị trí thứ hai. Phạm Lãi thời cổ đại, mỗi lần ông buôn bán phát tài đều mang tiền của ấy bố thí hết cho những người nghèo, lại tự tay lập nghiệp, lại được phát tài. Liên tục ba lần đều như thế. Người Trung Quốc cổ đại đem Phạm Lãi cung phụng thành thần tài đều là có đạo lý cả. Đấy chính là ông ta có phúc báo, nên dù cho làm gì đều có thể kiếm ra tiền.

Phúc báo của một người đều phải từ bản thân người ấy tự bồi đắp, ngay cả những người thân cũng không cách nào có thể thay thế họ được. Con trẻ cũng có phúc báo và nghiệp lực của riêng chúng, cha mẹ không cách nào thay thế cho con trẻ, vậy thì điều cha mẹ có thể làm được là giúp cho con trẻ nuôi dưỡng và bồi đắp phúc đức.

Cổ nhân từng nói rằng: “Tích đức cho con cháu”. Con trẻ nếu như có thể thành đạt, không nhất thiết phải dùng đến tiền của để lại, con trẻ mà không thể phát đạt, tiền của có để lại bao nhiêu cũng đều tiêu tán, cho nên chi bằng lưu lại âm đức cho con cháu.

Tích tồn tài vật, chi bằng hãy tồn trữ phúc báo. Vậy phúc báo tích trữ ra sao? Làm điều tốt thì tích phúc báo, nhường nhịn và chịu thiệt mà tích phúc báo,… đều là làm những việc mang lại ý nghĩa tốt cho người khác mà đắc được phúc báo.

Không nên xem nhẹ phúc báo, phúc báo cũng còn có thể cứu được mạng người, tiền bạc của một người cũng phải đánh đổi từ phúc báo mà có. Có được phúc báo, tất cả của cải bạn đều có thể tạo ra.

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2016

Câu chuyện về tiểu hòa thượng và những chiếc bánh mì

Đức Phật dạy rằng đạt được không nhất định chính là hưởng thụ. Chỉ cần không cần đưa mắt nhìn chằm chằm vào người khác, không cần so đo với người khác, không tham, không cầu, tự nhiên chúng ta sẽ thỏa mãn, tự nhiên sẽ thấy hạnh phúc.

Trong cuộc sống này có nhiều người luôn muốn chiếm được thật nhiều lợi ích về phía mình, khi đó họ mới thấy thỏa mãn, mới thấy bằng nhà người ta… Chính là giống như tiểu hòa thượng trong câu chuyện dưới đây.
Một buổi sáng nọ, tiểu hòa thượng phát hiện sư phụ có 6 chiếc bánh mì, đại sư huynh cũng nhận được 6 chiếc bánh mì, trong khi đó mình chỉ có 4 cái mà thôi.


Tiểu hòa thượng cảm thấy là rất không công bằng. Cậu nghĩ bụng: “Sư phụ được 6 cái bánh mì, cậu không có ý kiến gì, nhưng mà đại sư huynh cũng được 6 cái bánh mì, chẳng phải là ngang vai ngang vế với sư phụ sao? Thật là không được! Không được!”
Vì thế tiểu hòa thượng quyết định mình cũng phải được 6 cái bánh mì mới chịu. Cậu đi tìm sư phụ, nói với sư phụ ý muốn của mình.
Sư phụ hỏi: “Ngươi có thể ăn 6 cái bánh mì sao?”.
Tiểu hòa thượng tự tin dõng dạc nói: “Vâng thưa sư phụ! Con có thể! Con muốn có 6 cái bánh mì!”.
Sư phụ mỉm cười nhìn tiểu hòa thượng, lấy thêm 2 cái bánh mì đưa cho cậu. Một lúc sau, tiểu hòa thượng đã ăn hết 6 cái bánh mì, cậu cảm thấy thật là no. Tiểu hòa thượng vỗ vỗ bụng, cao hứng nói với sư phụ: “Sư phụ, người xem, 6 cái bánh mì con đều ăn hết rồi. Con có thể ăn hết 6 cái bánh mì, vậy nên mỗi sáng sớm con cũng muốn giống như đại sư huynh có được 6 cái bánh mì!”.
Sư phụ hiền từ nhìn tiểu hòa thượng, nói: “Ngươi bây giờ ăn hết 6 cái bánh mì rồi, nhưng ngày mai có muốn 6 cái bánh mì hay không, thì hãy đợi một lát nữa rồi hẵng nói!”.
Một lúc sau, tiểu hòa thượng cảm thấy trướng bụng, lại còn khát nước, phải đi uống hết hơn nửa bát nước. Liền sau đó, bụng của tiểu hòa thượng càng lúc càng trướng, hơn nữa còn đau âm ỉ. Tiểu hòa thượng bắt đầu thấy khó chịu, không thể đi đun nước, quét rác và niệm kinh như ngày thường.
Lúc này, sư phụ đi tới nói với tiểu hòa thượng:
“Bình thường ngươi ăn 4 cái bánh mì, hôm nay ngươi lại ăn 6 cái bánh mì, vậy là ngươi có được nhiều hơn 2 cái. Nhưng mà ngươi lại không hề biết rằng, sau khi ăn ngon lành 2 cái bánh này, thì ngược lại, chúng mang đến cho ngươi không ít thống khổ.
‘Đạt được’ không nhất định chính là hưởng thụ. Không cần đưa mắt nhìn chằm chằm vào người khác, không cần so đo với người khác, không tham, không cầu, tự nhiên sẽ thỏa mãn, tự nhiên sẽ hạnh phúc”.
Tiểu hòa thượng nghe xong mới gật gật đầu đồng ý, vừa ôm bụng vừa nói: “Sư phụ, từ mai con chỉ ăn 4 cái bánh mì mà thôi!”.
Lời của vị sư phụ dạy tiểu hòa thượng quả thật rất sâu sắc và ý nghĩa. Hy vọng rằng câu chuyện nhỏ trên sẽ là một lời nhắn nhủ hữu ích tới mỗi chúng ta!

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

Phật dạy mọi thứ hãy để tùy vào duyên phận

Phật dạy rằng duyên phận vốn là điều gì đó rất kì lạ, và không một ai có thể thực sự nói rõ về nó. Có thể là hữu duyên vô tình quen biết nhau nhưng lại vô cùng thấu hiểu về nhau. Có thể là hài hòa với nhau, nhưng lại không thể gần nhau. Không cố ý theo đuổi thì có mà nếu bỏ tâm cố gắng thì lại chẳng thành. Như là “có lòng trồng hoa, hoa chẳng nở, vô tình cắm liễu, liễu lại xanh”.

Mọi người thường vẫn nói, duyên là do trời định, phận là do nhân định. Đúng là như thế, gặp nhau là ý trời, nhưng có ở bên nhau được hay không lại do ý người. Dựa vào đôi bên gìn giữ, phát triển thì duyên một lần gặp gỡ mới thành mối phận trăm năm. Nhưng duyên phận dài ngắn thế nào lại chẳng ai hay, ai biết? Một năm, năm năm, cả đời? Hết thảy chúng ta đều không đoán được, đó chính là một loại nghe thuat song.


Hôm nay có duyên phận không có nghĩa là vĩnh viễn sẽ có duyên phận. Phật có bàn về nhân duyên rằng, cái gì cũng chỉ có thời điểm và duyên phận cũng vậy. Bởi thế mà phải nắm thật chắc, giữ thật chặt, hết lòng quý trọng. Đó chính là món quà trời ban, chỉ trong một giây, một khắc, một đoạn.

Nếu có lỡ mất đi rồi cũng không nên ủ rũ, càng không thể cảm thấy cả thế giới sụp đổ vì duyên đã hết, phận đã đứt, cưỡng cầu chỉ thêm đau lòng. Người mất đi nhất định không phải người thích hợp nhất, vật mất đi nhất định không phải vật tốt đẹp nhất. Có mất đi chỉ chứng minh rằng ta với người chẳng qua là cùng nhau đi một đoạn đường, gặp rồi chia, li rồi hợp.

Kỳ thực, trong cuộc đời mỗi người có rất nhiều điều là không thể lý giải. Cũng chính bởi điều này mà khiến cho con người ta lúc nào cũng tràn đầy suy tưởng. Con người sống trên thế gian dường như là theo sự an bài sẵn vậy! Một người, trong cuộc đời của mình, đến thời điểm nào sẽ gặp ai, sự tình gì đều là đã được định sẵn.
Cổ nhân có câu “Mệnh lý hữu thì chung tu hữu, mệnh lý vô thì mạc cưỡng cầu”, điều đó như một bai hoc cuoc song có ý rằng, khi điều gì đó đã được sắp đặt sẵn thì nó sẽ đến đúng thời điểm. Còn cái gì không được sắp đặt trước rồi thì không ai có thể làm nó xảy ra được, vậy thì cần gì phải cố sức để thay đổi nó ?
Làm người học được cách điềm nhiên đối đãi với hết thảy, dùng bình tĩnh để đối đãi với mọi sự công bằng và bất công bằng trong cuộc sống, thản nhiên tiếp nhận mọi sự an bài hợp ý và không hợp ý mình. Ấy mới là cách đối đãi của bậc trí huệ.
Duyên đến không cần phải vui mừng quá đỗi, duyên đi cũng không cần phải khóc lóc thảm thiết.
Không có tình yêu thì bên cạnh bạn vẫn có bạn bè.
Không có bạn bè tri kỷ thì bên cạnh bạn vẫn còn có gia đình
Không có gia đình thì bạn vẫn còn sinh mệnh của chính mình.
Duyên hợp, duyên tan đều lưu lại một điều gì đó tốt đẹp và một chút tiếc nuối. Trong sinh mệnh của mỗi người thì điều gì là của bạn thì sẽ mãi không mất, còn như điều gì đã không phải là của bạn thì đến cuối cùng cũng không thuộc về bạn.
Mọi sự là tùy duyên, điều gì đã qua thì hãy buông bỏ để nó qua đi, cũng nên bình tĩnh đối diện, quý trọng hết thảy những gì mình đang có ở hiện tại, như vậy mới sống đực tụe nhiên và thản đãng. Còn nếu cứ cố gắng níu giữ thì sẽ chỉ khiến bạn sống triền miên trong vô vọng và tâm linh luôn bị đè nặng mà thôi.
Con người trên thế gian, nếu như so đo, tính toán quá nhiều thì sẽ tự tạo thành một loại ràng buộc, còn nếu bị mê lạc quá lâu thì sẽ tạo thành một loại gánh nặng. Vì vậy, không cần quá để ý, khi có được điều gì thì hãy thật lòng trân quý, còn khi mất đi điều gì cũng đừng quá đau khổ hay tiếc nuối. Để ý quá nhiều, quá sâu sẽ khiến bạn mất đi một nửa hạnh phúc, xem nhẹ hết thảy sẽ khiến cuộc sống thăng hoa và nhẹ nhàng hơn rất nhiều.

“Có duyên mà không có phận, có phận mà không có duyên” đều là một phần trong sinh mệnh, nó không nên trở thành bước đệm dẫn bạn đến bước đường cùng của cuộc đời. Đừng vì “duyên đi” mà sinh ra tâm oán thù, lòng oán hận.

Sống trên đời, điều gì đến thì hãy quý trọng, điều gì phải đi thì nên buông tay, như thế mới sống được tự do tự tại thực sự. Sống thuận theo tự nhiên là một loại trí tuệ, cũng là một loại cảnh giới cao của người giác ngộ.

Duyên đến, duyên đi, duyên như nước chảy!

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

Quan điểm Đức Phật về xung đột và chiến tranh

Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh vào tầm quan trọng của một cuộc sống hòa bình. Người luôn luôn hướng dẫn cho con người ta hướng tới sự hòa bình, yên lành. Niết Bàn chính là mục đích tối cao của tất cả người con của Đức Phật. Phật dạy rằng nơi đó được cho là “con đường thánh thiện và bình yên nhất”. Khi đức Phật còn là một vương tử trẻ, Ngài đã từ bỏ con đường chinh phạt mà có thể dẫn đến các cuộc chiến tranh và xung đột để đi tìm cho mình một con đường có thể đem đến hạnh phúc tối cao cho tất cả chúng sinh.


Trong thế giới hiện tại ngày nay, sở dĩ có chiến tranh và xung đột xảy ra triền miên là do những nguyên nhân sau đây:

1. Tham sân si
2. Thiếu hiểu biết
3. Kinh tế và Chủ nghĩa vật chất
4. Sự nghèo khổ
5. Cuồng tín
6. Quan điểm chính trị

Chiến tranh sinh ra những vấn nạn về kinh tế và xã hội một cách nghiêm trọng cho mỗi quốc gia. Người ta phải chi tiền cho quân đội, quân nhu và đủ loại vũ khí như tên lửa, súng đạn cũng như các loại bom đạn khác nhau… Ngoài sự tốn kém về tiền bạc, chiến tranh còn hủy diệt tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như mạng sống con người. Gia đình tan nát, đạo đức ngã nghiên với các loại trộm cướp, hiếp dâm. Lương thực thì thiếu thốn, bịnh dịch thì tràn lan, cảnh màn trời chiếu đất xảy ra khắp nơi. Những cuộc chiến tranh đã và đang xảy ra ở các nước đều cho ta thấy một bức tranh giống nhau như thế. Tiền bạc thay vì đem đi phục vụ cho chiến tranh, chúng sẽ tốt hơn nếu được dùng vào các công ích xã hội như xây nhà cửa cho người nghèo, đầu tư giáo dục cũng như phát triển các phương tiện y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Nếu quan sát kỷ những nguyên nhân của chiến tranh và xung đột thì chúng ta có thể thấy rằng, chúng đều bắt nguồn từ những hành động như cướp đất, xăm phạm biên giới và chủ quyền lãnh thổ quốc gia, cuồng tín, tham vọng chính trị hoặc là để trả thù…

Ngăn chặn chiến tranh và xung đột là nguyện vọng của tất cả mọi người. Đối với những vấn đề mang tính chất toàn cầu hiện nay, Phật giáo đã đưa ra những lời khuyên thích hợp nhất để ngăn chặn chiến tranh và xung đột.

Ví dụ như trong kinh Pháp Cú, Phật dạy rằng: Oán thù không thể dập tắt được oán thù, mà chỉ có tình thương mới dập tắt được oán thù mà thôi. Tất cả chúng ta nên có thái độ như thế mà đừng nghĩ đến việc báo thù. Đức Phật luôn luôn khuyên hàng phật tử nên có thái độ hài hòa với người khác vì điều đó dẫn đến sự an lạc từ bên trong mỗi người.

Phật giáo chủ trương không bạo lực. Tín đồ của tất cả các tôn giáo đều có thể áp dụng điều này. Lời Phật dạy cho việc ngăn chặn và chấm dứt chiến tranh và xung đột ở cả hai phương diện, bên trong ý thức con người và bên ngoài xã hội. Một vài tác phẩm sau này đã đưa ra những ý kiến không phù hợp lắm với những gì đức Phật thật sự dạy.

Ví dụ như những câu chuyện về tiền thân đức Phật được biên soạn vào giai đoạn Kurunagala ở Sri Lanka thế kỷ thứ 13. Theo đó, trong một vài câu chuyện, bồ tát được diển tả như những chiến binh. Tùy theo thời gian và hoàn cảnh mà các tác giả đó đã cố tình tạo ra hình ảnh bồ tát như những vị vua hoặc tướng lĩnh để bảo vệ đất nước trước nạn ngoại xăm. Tuy nhiên đức Phật dạy rằng người nào tham dự vào chiến tranh và xung đột thì họ sẽ rước lấy sự bất hạnh to lớn. Trong King Phạm Võng thuộc Trường Bộ Kinh, đức Phật dạy rằng: “Anh ta là người hòa giải, người mà ở trong tình trạng xung đột có thể khuyến khích người khác đoàn kết, hòa hợp, thụ hưởng hòa bình, yêu hòa bình, vui với hòa bình, anh ta là một người, người mà luôn nói lời ca ngợi sự hòa bình. Từ bỏ sát sanh, bật tu hành Gotama kiềm chế việc sát sanh, Ông ấy sống không có sử dụng gậy và gươm, sống với sự quan tâm, từ ái và thông cảm người khác”.

Theo gương đức Phật, người phật tử đề cao lối sống đạo đức. Họ không bao giờ làm hại người khác, cướp bóc hay tướt đoạt của người khác thứ gì. Trong Trung Bộ Kinh, đức Phật dạy có hai nguyên nhân chính gây ra chiến tranh và xung đột, đó là tham ái và đam mê khoái lạc giác quan. Xem xét nguyên nhân của những cuộc chiến tranh và xung đột trước đây cũng như hiện tại, ta thấy rằng, tham ái và những nhu cầu vật chất chính là những nguyên nhân chính của những cuộc chiến tranh và xung đột đó. Đức Phật giải thích rằng người nào có khả năng làm chủ các giác quan và loại trừ tham ái thì anh ta sẽ không có khuynh hướng đấu tranh hay hay hảm hại kẻ khác, ức hiếp hay lạm dụng, trộm cắp hay tướt đoạt tài sản của kẻ khác.

Trong lời dạy của mình, đức Phật chú trọng đến nguyên nhân của xung đột. Phật giáo không đánh giá cao những giải pháp tạm thời. Bởi vì nếu như những nguyên nhân của chiến tranh và xung đột không được gở bỏ vĩnh viễn thì chiến tranh và xung đột sẽ lại tiếp diễn lần sau và lần sau nữa.

Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống và Kinh Cứu La Đàn Đầu nêu ra một khía cạnh khác của chiến tranh và xung đột. Đó là sự tranh giành tài nguyên thiên nhiên và tài sản vật chất. Khi con người ra sức gom góp của cải thì xãy ra sự tranh giành giữa người này với người kia, nhóm này với nhóm kìa và nước này với nước khác. Sự tranh giành dần dần dẫn đến xung đột, chiến tranh. Vì thế mà Phật giáo khuyên con người nên nghĩ đến sự vô thường của vật chất. Khi người ta thấy được tính chất phù du của vật chất thì người ta có thể đi ra ngoài những cuộc tranh giành khốc liệt.

Trong Kinh Đế thích Sở Vấn, vua trời Đế Thích đến hỏi Phật rằng, các vị trời và loài người luôn luôn muốn sống hài hòa với nhau nhưng tại sao họ cứ phải gây gổ và đấu tranh với nhau không dứt? Đức Phật giải thích rằng có hai yếu tố tâm lý làm phát sinh xung đột. Đó là ganh tỵ và bủn xỉn. Tâm lý muốn vơ vét nhưng lại không chịu đựng được khi thấy người khác hơn mình chính là nguyên nhân trực tiếp của chiến tranh và xung đột.

Theo đức Phật thì các nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị có vai trò hàng đầu trong việc ngăn chặn xung đột và chiến tranh. Một nhà lãnh đạo tốt, có trách nhiệm sẽ lãnh đạo đất nước sống trong hòa bình. Nhưng khi đất nước được lãnh đạo bởi một nhà lãnh đạo không chính trực thì đất nước đó thế nào cũng rơi vào tình trạng bi đát. Cho nên trong Tăng chi Bộ Kinh đức Phật dạy rằng: Cũng như con bò đầu đàn đi bậy thì các con bò khác đi bậy theo, một người lãnh đạo đối xử với người khác không đứng đắn thì những người dưới họ cũng làm như vậy. Một nhà lãnh đạo tồi sẽ chối bỏ trách nhiệm sau khi ông ta đẩy tất cả mọi người vào trong chổ nguy hiểm. Vì thế, một nhà lãnh đạo tốt nên hướng dẫn mọi người đi theo con đường chân chính.

Khao khát và kiêu căng cũng là nguyên nhân của chiến tranh và xung đột. Trong lich sử loài người, con người tạo ra chiến tranh và xung đột để bảo vệ sự kiêu căng và tham vọng của họ. Đức Phật khuyên người phật tử nên loại trừ sự kiêu căng như thế ra khỏi cuộc sống của họ. Nhiều cuộc xung đột xã hội, nội chiến, đấu tranh vũ trang nổi lên là do sự lãnh đạo yếu kém của các nhà lãnh đạo. Đức Phật khuyên các nhà lãnh đạo nên tránh bốn khuynh hướng. Đó là cảm tình thiên vị, thù hận, sợ hãi và ảo tưởng. Nhà lãnh đạo không nên quan tâm đến vấn đề như giới tính, tầng lớp xã hội, tuổi tác, tôn giáo, chủng tộc… của đối tượng khi họ sắp quyết định một vấn đề. Nói cách khác, quyết định của họ không nên bị chi phối bởi những yếu tố trên.

Bởi vì tham ái và ý tưởng trả thù mà chiến tranh và xung đột khởi lên liên miên. Đức Phật đề cập đến một nguyên nhân khác của chiến tranh. Đó là có một số người cho rằng bản thân họ, tôn giáo họ hay quốc gia họ cao nhất, còn những người khác, tôn giáo khác, quốc gia khác thì thấp hơn. Đức Phật dạy trong kinh Pháp Cú rằng: Kẻ thắng thì bị thù ghét, người thua thì sống trong đau buồn. Cả hai phía đều bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Kinh Cullabodhi Jakata nói rằng lòng hận thù và ý muốn trả thù tiêu diệt cuộc sống con người. Cũng như hai cây gậy đập vào nhau, lửa tóe ra tiêu diệt cả hai cây. Theo Phật giáo thì trong chiến tranh, không có ai là kẻ thắng cuộc cả. Thay vào đó, đức Phật nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự tự thắng mình trước những ô nhiễm của chính bản thân mình.

Trong kinh Pháp Cú đức Phật dạy rằng, chiến thắng được dục vọng của mình thì vĩ đại hơn thắng ngàn kẻ thù bên ngoài. Ngài luôn luôn khuyên chúng ta là hãy nhìn thấy lỗi của mình thay vì đi tìm lỗi của người khác. Bởi vì khi người ta thấy lỗi của người khác thì xung đột bắt đầu. Đức Phật luôn luôn khuyên chúng ta nên suy tư về bản thân mình để loại bỏ những khuyết điểm của bản thân. Có một lần nọ, khi đức Phật đang ngồi thiền dưới một gốc cây thì một nhóm thanh niên đến hỏi Ngài rằng, Ngài có thấy một phụ nữ đi ngang qua không, thì đức Phật trả lời rằng: Đừng có nghĩ đến những gì người khác làm hay không làm, mà hãy nghĩ về những gì mình đã làm hay chưa làm.

Thông thường, người ta hay đổ lỗi hoặc quy trách nhiệm cho kẻ khác mà không thấy lỗi và trách nhiệm của mình. Và đó cũng chính là nguyên nhân của mọi xung đột. Cho nên đức Phật khuyên chung ta nên xác định trách nhiệm của mình và đối xử tốt với người khác. Ngài khuyên chúng ta hãy trãi lòng từ, thậm chí đối với kẻ thù. Trong kinh Ví dụ Cái Cưu thuộc Trung Bộ kinh, đức Phật đã khen ngợi tính kiên nhẫn của một vị tăng khi vị này đã trải lòng từ cho những tên cướp dù chúng đã cắt đi một phần cơ thể của vị tăng và làm cho vị tăng đau đớn đến chết.

Tóm lại, lời Phật dạy có thể dùng để giải quyết những vấn đề hiện tại một cách vĩnh viễn. Bởi vì Phật giáo giải quyết vấn đề từ căn bản gốc rể của nó. Chiến tranh và xung đột khởi lên là do nhu cầu chính trị, tham vọng của những cá nhân hoặc nhóm người. Đức Phật đã giới thiệu nhiều nguyên tắc để ngăn chặn chiến tranh và xung đột. Chính trực, tôn trọng lẫn nhau, chia sẻ quyền lợi, từ bi, nhẫn nhục, nhu thuận là những nguyên tắc quan trọng rất cần được thực hành vậy.

More from my site

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2016

Ta chọn tha thứ không phải ta là người nhu nhược

“…Giữ hận thù thì dễ tha thứ mới là việc khó. Ta chọn việc tha thứ không phải bởi vì ta là kẻ nhu nhược mà bởi vì ta hiểu rằng tha thứ chính là một trong những đức tính tốt đẹp nhất trong cuộc sống này. Điều đó là chân lý không bao giờ sai cả…”

Ta lựa chọn lương thiện không phải bởi vì ta mềm yếu, mà đơn giản ta hiểu rằng lương thiện chính là bản tính nguyên sơ của mỗi con người, vì “nhân chi sơ, tính bổn thiện”. Làm người thì không thể chọn con đường trở thành kẻ ác, mà người ác tất sẽ gặp báo ứng.


Ta chọn “khờ khạo” không phải vì ta là kẻ khờ khạo thật, mà bởi vì ta hiểu rằng, khi ta đối diện với hiểu lầm, oan ức, bất công thì không nên so đo tính toán quá, cứ nở nụ cười mà lặng nhìn thế thái nhân tình.

Ta lựa chọn việc nhường nhịn không có nghĩa là ta đang bị thụt lùi, mà bởi vì ta hiểu ra rằng, “một sự nhịn là chín sự lành”, nhịn một chút để sóng yên biển lặng, lùi một chút biển rộng trời cao.

Ta trân trọng nghĩa tình không phải bởi vì ta quỵ lụy, mà bởi vì ta không nhất thiết phải vứt bỏ khoảng thời gian tốt đẹp giữa chúng ta.

Ta chọn việc tha thứ không phải bởi vì ta là kẻ nhu nhược mà bởi vì ta hiểu rằng tha thứ chính là một trong những đức tính tốt đẹp nhất trong cuộc sống này. Điều đó là chân lý không bao giờ sai cả

Ta lựa chọn việc tha thứ còn có một nguyên nhân nữa, đó là không phải vì ta không giữ vững lập trường, mà bởi vì ta hiểu ra rằng mọi chuyện không nên làm tận, làm tuyệt, vì “100 cái lý, không bằng 1 tý cái tình”.

Đôi khi giả vờ ngốc ngếch không phải là vì ngốc thật, mà chỉ là muốn cấp cho đối phương thêm một cơ hội nữa.

Ta chọn chân thành và nói lời thẳng thắn là bởi vì ta hiểu 1 điều rằng, những lời nói dối, trái với lương tâm chỉ dùng để đối phó với tình huống, trong khi thật lòng đối đãi, nói lời chân tình mới thật sự giải quyết tận gốc vấn đề và không có hậu họa về sau.

Cuộc đời này vốn dĩ có nhiều điều dù ta có muốn hay không chúng vẫn luôn tồn tại. Tuy nhiên khi đối diện với cuộc đời thì bản tính của mình như thế nào mới là điều quan trọng nhất.
 
Copyright © 2013 Hạt giống tâm hồn
Powered byBlogger